Trong lá thư gửi cho chủng viện tổng giáo phận “San Carlos y San Marcelo” ở Trujillo, Peru, nhân dịp kỷ niệm 400 năm thành lập, Đức Lêô XIV đã đề cập đến những điều nền tảng của cuộc sống chủng sinh, người phải có một trái tim trong sáng, và đồng thời nhắc nhở về nhiệm vụ đầu tiên của họ vẫn như của các môn đệ xưa: « ở bên Chúa, để Người đào tạo các con, hiểu biết và yêu mến Người, để các con có thể trở nên giống Người ». Vì thế, « đời sống chủng viện là một hành trình chỉnh sửa nội tâm » không ngừng.

Dưới đây là Thư của Đức Thánh Cha :
Các con thân mến,
Năm nay, chúng ta tạ ơn Chúa vì bốn thế kỷ lịch sử của Đại Chủng viện Tổng giáo phận “San Carlos y San Marcelo” tại Trujillo, và chúng ta tưởng nhớ vô số các bạn trẻ từ Tổng giáo phận, từ nhiều thẩm quyền khác nhau ở Peru và các cộng đồng tu trì, trong các lớp học và nhà nguyện đó, đã tìm cách đáp lại tiếng gọi của Chúa Kitô, Đấng đã gọi họ “ở với Người và được sai đi rao giảng” (Mc 3, 14). Những dấu chân của cha cũng là một phần của ngôi nhà đó, nơi cha đã phục vụ với tư cách là giảng viên và giám học.
Nhiệm vụ đầu tiên của các con vẫn vậy: ở với Chúa, để Người đào tạo các con, hiểu biết và yêu mến Người, để các con có thể trở nên giống Người. Đó là lý do tại sao Giáo hội luôn mong muốn có các chủng viện, những nơi gìn giữ kinh nghiệm này và chuẩn bị cho những người sẽ được sai đi phục vụ Dân thánh của Thiên Chúa. Đó cũng là nguồn mạch cho những thái độ mà cha muốn chia sẻ với các con bây giờ, bởi vì chúng luôn là nền tảng vững chắc cho thừa tác vụ linh mục.
Vì lý do này, trước hết, cần phải để Chúa soi sáng động lực và thanh tẩy ý hướng của mình (x. Rm 12, 2). Chức linh mục không thể bị giản lược thành việc “đạt được việc truyền chức” như thể đó là một mục tiêu bên ngoài hay một lối thoát dễ dàng khỏi những vấn đề cá nhân. Chức linh mục không phải là trốn tránh điều mình không muốn đối mặt, cũng không phải là nơi ẩn náu khỏi những khó khăn về tình cảm, gia đình hay xã hội; cũng không phải là sự thăng tiến hay nơi trú ẩn, mà là sự trao hiến trọn vẹn cuộc sống của mình. Chỉ trong tự do, người ta mới có thể hiến thân: bị ràng buộc bởi lợi ích hay nỗi sợ hãi, không ai trao hiến chính mình, vì “ý muốn thực sự tự do khi nó không phải là nô lệ” (Thánh Augustinô, De civitate Dei, XIV, 11, 1). Điều quyết định không phải là được “truyền chức”, nhưng thực sự phải là linh mục.
Xét theo quan điểm thế tục, thừa tác vụ bị nhầm lẫn với một quyền lợi cá nhân, một vị trí có thể phân phối; nó trở thành chỉ là một chức năng đặc quyền hoặc quan liêu. Trên thực tế, nó phát sinh từ sự lựa chọn của Chúa (x. Mc 3, 13), Đấng, với lòng ưu ái đặc biệt, đã kêu gọi một số người tham dự vào thừa tác vụ cứu độ của Người, để họ có thể phản ánh hình ảnh của Người nơi chính mình và liên tục làm chứng cho lòng trung thành và tình yêu (x. Sách Lễ Rôma, Kinh Tiền Tụng I Lễ Truyền Chức). Những ai tìm kiếm chức linh mục vì những lý do hời hợt thì đã nhầm lẫn về nền tảng và xây dựng trên cát (x. Mt 7, 26-27).
Đời sống chủng viện là một hành trình chỉnh sửa nội tâm. Chúng ta phải để Chúa soi xét tâm hồn và chỉ rõ cho chúng ta điều gì là động lực thúc đẩy những quyết định của mình. Sự ngay thẳng trong ý hướng nghĩa là có thể nói mỗi ngày, một cách đơn sơ và chân thật: “Lạy Chúa, con muốn trở thành linh mục của Chúa, không phải cho bản thân con, nhưng cho dân Chúa”. Sự minh bạch này được vun đắp qua việc xưng tội thường xuyên, sự linh hướng chân thành, và sự vâng phục tin tưởng những người đồng hành với chúng ta trong việc phân định. Giáo hội đòi hỏi các chủng sinh có tâm hồn trong sáng, tìm kiếm Chúa Kitô một cách không hai lòng và không để mình bị mắc kẹt trong sự ích kỷ hay háo danh.
Điều này đòi hỏi sự phân định liên tục. Sự chân thành trước mặt Chúa và trước mặt các nhà đào tạo bảo vệ chúng ta khỏi sự tự bao biện và giúp sửa chữa kịp thời những gì không phù hợp với Tin Mừng. Một chủng sinh học cách sống với sự sáng suốt này sẽ trở thành một con người trưởng thành, thoát khỏi tham vọng và toan tính nhân loại, tự do hiến thân không chút dè dặt. Bằng cách này, việc truyền chức sẽ là sự xác nhận hân hoan về một cuộc sống được Chúa Kitô uốn nắn từ khi vào chủng viện, và là khởi đầu của một hành trình đích thực.
Tâm hồn người chủng sinh được hình thành trong mối tương quan cá nhân với Chúa Giêsu. Cầu nguyện không phải là một bài tập phụ thuộc; khi cầu nguyện, người ta học cách nhận ra tiếng nói của Người và để Người dẫn dắt mình. Ai không cầu nguyện thì không biết Thầy, và ai không biết Người thì không thể thực sự yêu mến Người hay trở nên giống Người. Thời gian dành cho cầu nguyện là khoản đầu tư sinh lợi nhất trong cuộc đời của một người, bởi vì chính nơi đó, Chúa uốn nắn cảm xúc của chúng ta, thanh tẩy ước muốn và củng cố ơn gọi của chúng ta. Ai không trò chuyện đủ với Chúa thì không thể nói về Chúa! Chúa Kitô cho phép Người được gặp gỡ một cách đặc biệt trong Thánh Kinh. Chúng ta phải tiếp cận Thánh Kinh với lòng tôn kính, với tinh thần đức tin, tìm kiếm Người Bạn, Đấng tự mặc khải trong từng trang sách.
Ở đó, những người sẽ trở thành linh mục khám phá ra cách Chúa Kitô suy nghĩ, cách Người nhìn thế giới, cách Người xúc động trước người nghèo, và dần dần họ hấp thụ cùng những tiêu chuẩn và thái độ của Người. “Chúng ta cần nhìn… vào Chúa Giêsu, vào lòng trắc ẩn mà Người nhìn thấy nhân loại bị tổn thương của chúng ta, vào sự nhưng không mà Người đã hiến mạng sống mình cho chúng ta trên thập giá” (Phanxicô, Thư gửi các linh mục Giáo phận Rôma, ngày 5 tháng 8 năm 2023).
Giáo hội luôn nhìn nhận rằng cuộc gặp gỡ với Chúa cần được bắt nguồn từ trí tuệ và cần trở thành giáo thuyết. Đó là lý do tại sao việc học tập là con đường thiết yếu để đức tin trở nên vững chắc, được lập luận chặt chẽ và có khả năng soi sáng cho tha nhân. Những người được đào tạo để trở thành linh mục không dành thời gian cho học thuật chỉ vì học thức, nhưng vì lòng trung thành với ơn gọi của mình. Công việc trí thức, đặc biệt là công việc thần học, là một hình thức yêu thương và phục vụ, cần thiết cho sứ mạng, luôn hiệp thông trọn vẹn với Huấn quyền. Không có việc học tập nghiêm túc, thì không có thừa tác vụ mục vụ đích thực, bởi vì thừa tác vụ này hệ tại việc dẫn dắt mọi người nhận biết và yêu mến Chúa Kitô, và trong Người, tìm thấy ơn cứu độ (x. Piô XI, Thông điệp Ad Catholici Sacerdotii, 44-46). Người ta kể rằng một chủng sinh đã hỏi thánh Alberto Hurtado nên học chuyên về điều gì, và thánh nhân đã trả lời: “Hãy học chuyên về Chúa Giêsu Kitô!”. Đó là sự hướng dẫn chắc chắn nhất: biến việc học tập thành phương tiện để kết hợp mật thiết hơn với Chúa và loan báo Ngài một cách rõ ràng.
Cầu nguyện và tìm kiếm chân lý không phải là những hành trình song song, nhưng là một con đường duy nhất dẫn đến Thầy. Một lòng đạo đức không có giáo thuyết sẽ trở nên đa cảm mong manh; giáo thuyết không có cầu nguyện sẽ trở nên khô cằn và lạnh lẽo. Hãy nuôi dưỡng cả hai bằng sự cân bằng và nhiệt huyết, biết rằng chỉ bằng cách này, các con mới có thể chân thực rao giảng điều mình sống và sống cách nhất quán điều mình rao giảng. Khi tâm trí cởi mở với chân lý được mặc khải và trái tim bừng cháy trong cầu nguyện, việc đào tạo sẽ trở nên hiệu quả và chuẩn bị cho các con một chức linh mục vững chắc và sáng ngời.
Đời sống thiêng liêng và trí thức là điều không thể thiếu, nhưng cả hai đều hướng về bàn thờ, nơi căn tính linh mục được xây dựng và biểu lộ trọn vẹn (x. Thánh Gioan XXIII, Thông điệp Sacerdotii Nostri Primordia, II). Tại đó, trong Hy Tế Thánh, linh mục học cách dâng hiến cuộc đời mình, như Chúa Kitô trên thập giá. Bằng cách nuôi dưỡng mình bằng Bí tích Thánh Thể, linh mục khám phá ra sự hiệp nhất giữa thừa tác vụ và hy tế (x. Thánh Phaolô VI, Thông điệp Mysterium Fidei, 4), và hiểu rằng ơn gọi của mình là cùng với Chúa Kitô trở thành hy tế (x. Rm 12,1). Vì vậy, khi thập giá được coi là một phần không thể tách rời của cuộc sống, Bí tích Thánh Thể không còn chỉ được coi là một nghi lễ nữa, và trở thành trung tâm đích thực của cuộc sống.
Sự kết hợp với Chúa Kitô trong Hy tế Thánh Thể được mở rộng trong tư cách hiền phụ của chức linh mục, vốn không sinh ra theo xác thịt, nhưng theo Thần Khí (x. 1 Cr 4, 14-15). Trở thành người cha không phải là điều người ta làm, nhưng là điều người ta là. Một người cha đích thực không sống cho bản thân mình, nhưng cho gia đình mình: ông vui mừng khi con cái mình lớn lên, đau khổ khi chúng bị lạc, chờ đợi khi chúng lạc lối (x. 1 Tx 2, 11-12). Cũng vậy, linh mục mang toàn thể dân chúng trong lòng mình, cầu bầu cho họ, đồng hành với họ trong những cuộc chiến đấu của họ và nâng đỡ họ trong đức tin. Tư cách hiền phụ của chức linh mục hệ tại việc làm cho khuôn mặt của Chúa Cha trở nên hữu hình, để những ai gặp gỡ linh mục có thể trực giác cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa.
Tình phụ tử này được thể hiện qua những thái độ tự hiến: đời sống độc thân như là tình yêu trọn vẹn dành cho Chúa Kitô và Hội Thánh của Người, vâng phục như là tin tưởng vào thánh ý Chúa, nghèo khó theo tinh thần Phúc Âm là sẵn sàng ứng trực cho mọi người (x. VAT. II, Sắc lệnh Presbyterorum Ordinis, về thừa tác vụ và đời sống linh mục, 15-17), và lòng thương xót cùng sức mạnh đồng hành với những vết thương và nâng đỡ trong đau khổ. Trong những điều này, linh mục được nhìn nhận là người cha đích thực, có khả năng hướng dẫn con cái thiêng liêng của mình đến với Chúa Kitô với lòng kiên định và yêu thương. Không có tình phụ tử nửa vời, cũng không có chức linh mục nửa vời.
Các con, những ứng viên linh mục, được mời gọi tránh xa sự tầm thường, giữa những nguy hiểm rất thực tế: tính trần tục làm lu mờ tầm nhìn siêu nhiên về thực tại, chủ nghĩa hoạt động gây mệt mỏi, sự phân tâm kỹ thuật số cướp đi sự nội tâm của một người, những ý thức hệ sai lệch với Tin Mừng, và không kém phần nghiêm trọng, sự cô đơn của những người tìm cách sống mà không có linh mục đoàn và giám mục của mình. Một linh mục cô lập sẽ dễ bị tổn thương. Tình huynh đệ và sự hiệp thông linh mục là bản chất của ơn gọi. Giáo hội cần những mục tử thánh thiện, những người cùng nhau hiến thân, chứ không phải những chức năng đơn độc; chỉ bằng cách này, họ mới có thể trở thành những chứng nhân đáng tin cậy cho sự hiệp thông mà họ rao giảng.
Các con thân mến, để kết thúc, cha muốn bảo đảm với các con rằng các con có một chỗ trong trái tim của Người kế vị Thánh Phêrô. Chủng viện là một món quà to lớn và đầy đòi hỏi, nhưng các con không bao giờ đơn độc trên hành trình này. Thiên Chúa, các thánh và toàn thể Giáo hội đồng hành với các con, và một cách đặc biệt, giám mục và các nhà đào tạo của các con, những người giúp các con lớn lên “cho đến khi Chúa Kitô được hình thành trong các con” (Gl 4, 19). Hãy đón nhận sự hướng dẫn và sửa dạy của các ngài như những cử chỉ yêu thương. Cũng hãy nhớ đến sự khôn ngoan của thánh Toribio de Mogrovejo, rất được yêu mến ở Trujillo, ngài thích nói rằng: “Thời gian không phải là của chúng ta, nó rất ngắn ngủi, và Thiên Chúa sẽ buộc chúng ta phải chịu trách nhiệm nghiêm khắc về cách chúng ta đã sử dụng nó” (x. C. GARCÍA IRIGOYEN, Sto. Toribio, Lima 1908, 141). Vậy, các con hãy tận dụng mỗi ngày như một kho tàng không thể lặp lại.
Xin Đức Trinh Nữ Maria và thánh Giuse, những nhà giáo dục đầu tiên của Vị Linh Mục Tối Cao và Đời Đời, nâng đỡ tất cả các con trong niềm vui nhận biết rằng các con được yêu thương và được kêu gọi. Với những tình cảm này, như một dấu chỉ gần gũi, cha thân ái ban Phép Lành Tòa Thánh cho toàn thể cộng đồng Chủng viện thân yêu này và gia đình các con.
Vatican, ngày 17 tháng 9 năm 2025, Lễ nhớ thánh Robert Bellarmine, Giám mục và Tiến sĩ Hội Thánh.
LÊÔ XIV, Mục tử của các mục tử
---------------------------------------------------
Tý Linh chuyển ngữ
(nguồn : vatican.va)
