Logo
Logo

Hội Linh Mục Xuân Bích

Top Banner

Xuan Bich

Chúa Kitô Của Camus, Hay Tình Yêu Bất Khả Khuất Phục

"Ông tôn kính Chúa Kitô, nhưng không có đức tin." Trong cuốn " Le Christ d’Albert Camus " (Desclée de Brouwer), Véronique Albanel cho thấy làm thế nào con đường đầy đòi hỏi của Albert Camus có thể giúp những người Kitô hữu tin rằng luôn có thể sống và yêu thương, ngay cả khi thất bại.

Trong cuộc đời Camus, trước tiên sự gắn bó của ông với Chúa Kitô thuộc về một huyền nhiệm không thể diễn tả thành lời. Dù sao đi nữa, không có gì hé cho thấy cuộc gặp gỡ này với Chúa Kitô. Thậm chí, mọi thứ dường như đều cản trở: cái chết của cha ông trong chiến tranh năm 1914, tình trạng khuyết tật của mẹ ông, một "người phụ nữ nghèo, bất hạnh, thất học", sự tàn bạo của bà ngoại ông, sự nghèo đói, và cuối cùng, một bài giáo lý thất bại sau cái tát tàn nhẫn của vị linh mục. Tuy nhiên, chính tại đó, bên cạnh những người thân thuộc và đặc biệt là mẹ ông, Camus đã khám phá ra "sự thật của cuộc đời mình", như ông đã nói ở cuối tác phẩm "Premier homme", khi khẳng định một cách đầy đảo lộn: "Mẹ ông Chúa Kitô" (Le Premier homme, 1994).

Không tin nhưng không vô thần

Chân lý cuộc sống này, Camus gọi tên nó rất sớm, trong cuốn Noces, là "chân lý của thế giới" (1959), tức là chân lý của thân xác và xác thịt đau khổ, mà ông khám phá qua hai bức tranh của Piero della Francesca: La Flagellation du Christ (Chúa Kitô Bị Đánh Đòn) và La Résurrection (Sự Phục Sinh). Việc chiêm nghiệm hai tác phẩm này sẽ giúp ông, cho đến khi qua đời, sống và không tuyệt vọng. Và trong điều này, Camus chất vấn chúng ta, đặc biệt ngày nay, khi chúng ta một lần nữa phải "ngăn chặn thế giới khỏi sự sụp đổ" ("Discours de Stockholm", 1957), bằng cách hòa giải "trái tim đau khổ của con người và những mùa xuân của thế giới" ("Prométhée aux enfers", L’Été).

Về mối tương quan của mình với Chúa Kitô và Kitô giáo, Camus không ngừng đưa ra những tuyên bố công khai và can đảm. Ông tự nhận mình là người vô tín, nhưng không phải là người vô thần, và ông khẳng định: "Tôi chỉ tôn kính và kính trọng con người Chúa Kitô và câu chuyện của Người. Tôi không tin vào sự phục sinh của Người" (Stockholm, ngày 9 tháng 12 năm 1957, trong Œuvres complètes IV (OC IV), Gallimard, 2008).

Một Chúa Kitô sống động kỳ lạ

Do đó, Camus không phải là một Kitô hữu, và với ông, mọi phạm trù của chúng ta đều tan vỡ: nhà văn tôn kính Chúa Kitô, nhưng ông không có đức tin: không phải vào Thiên Chúa, cũng không phải vào một Chúa Kitô thiên sai. Ông không chia sẻ niềm hy vọng của những người Kitô hữu, hay chính xác hơn, ông đặt niềm hy vọng của mình vào "thân xác, sự dịu dàng [...], sự cao quý của con người" (Le Mythe de Sisyphe). Và cuối cùng, ông thích tình liên đới huynh đệ hơn bác ái. Vậy thì Chúa Kitô còn lại gì nếu không có đức tin, đức cậy và đức mến?

Người Kitô hữu có thể bị cám dỗ gạt bỏ ông ngay lập tức, vì thiếu sự tuân thủ các tín điều và thiếu sự an ủi đủ. Tuy nhiên, Chúa Kitô của Camus lại sống động, năng động một cách kỳ lạ, và thậm chí "phục sinh", như chính nhà văn đã nói, cũng trong tác phẩm Noces. Kỳ lạ thay, sự phục sinh lại xuất hiện vào cuối cuộc đời của Camus, liên quan đến mẹ ông: "Sự im lặng của bà đã nói điều gì, cái miệng câm lặng, mỉm cười ấy đã kêu lên điều gì, chúng ta sẽ phục sinh" [1]. Đó là chân lý về người công chính chịu đau khổ, chân lý về Chúa Kitô trong cơn hấp hối, và chân lý về thân mẫu của nhà văn [2]: sự dữ và cái chết không thể là lời cuối cùng; tình yêu là bất khả khuất phục và liên kết tất cả mọi người.

Trong cuộc đối thoại tin-không tin

Liệu người Kitô hữu có thể sống – khi bước theo Chúa Kitô – bằng tình yêu bất khả khuất phục và tình liên đới này, đặc biệt là với người nghèo? Đây là câu hỏi mà Camus đặt ra trong bài thuyết trình năm 1946 tại tu viện Đa Minh, với sự khiêm nhường đáng kinh ngạc vì ông tuyên bố: "Không cảm thấy mình sở hữu bất kỳ chân lý tuyệt đối nào, tôi sẽ không bao giờ khởi đi từ nguyên tắc rằng chân lý Kitô giáo là ảo tưởng, nhưng chỉ từ thực tế là tôi chưa thể bước vào đó" ("L’incroyant et les chrétiens"). Kêu gọi các tín hữu khám phá lại "đức tính nổi dậy và phẫn nộ" – đức tính của những Kitô hữu đầu tiên – nhà văn kỳ vọng rất nhiều vào một cuộc đối thoại tin-không tin, "giữa những người vẫn là những gì họ là và nói lên sự thật [...], bằng một tiếng nói mạnh mẽ và rõ ràng" (ibid.).

Trong cuộc đối thoại được mong đợi này, Camus không mong đợi "một nền luân lý của các anh hùng và thánh nhân". Ngược lại, như chính ông nói, nền luân lý của ông là khiêm tốn và ở tầm mức con người. Nhưng, mỗi người đều phải "ngăn chặn" việc giết chết thể xác hoặc tâm hồn. Chúng ta đừng nhầm lẫn! Theo nhà văn, giết người bắt đầu từ rất sớm: bằng một ý nghĩ giết người, một lời nói dối, một lời lăng mạ [3], một sự phản bội, hoặc lòng căm thù.

Đi tìm sự cân bằng

Theo Camus, chân lý của cuộc sống và thế giới cũng là "con đường của thế giới", con đường chúng ta phải khám phá lại để "cân bằng con người bằng thiên nhiên, sự dữ bằng cái đẹp, công lý bằng lòng trắc ẩn" ("L’Europe de la fidélité", Conférences et discours). Hơn bao giờ hết, chúng ta cần sự cân bằng này mà Camus đã hoàn toàn tìm kiếm theo bước chân Chúa Kitô và nhiều người khác, nhắc nhở chúng ta rằng người Kitô hữu chỉ có thể bước đi theo bước chân Chúa Kitô, Đấng là "đường, sự thật và sự sống" (Ga 14, 6).

-----------------------------------------------

[1] Carnets III, Gallimard, "Folio", 2013, p. 226. Cf. également p. 265 : " Thưa mẹ. Nếu chúng ta yêu thương đủ những người chúng ta yêu thương, chúng ta có thể ngăn họ khỏi chết." [2] Cf. Le Premier homme, p. 340 : " Mẹ: Bà không biết gì về cuộc đời của Chúa Kitô, ngoại trừ trên thập giá. Nhưng ai gần gũi với Người hơn?" [3] Cf. "Le témoin de la liberté", Conférences et discours, p. 122 : Người mà tôi xúc phạm, tôi không còn biết màu mắt của họ nữa, cũng không biết liệu họ có bao giờ cười không và cười như thế nào."

--------------------------------------------------

Tý Linh chuyển ngữ

(nguồn : Véronique Albanel, Aleteia)