Logo
Logo

Hội Linh Mục Xuân Bích

Top Banner

Xuan Bich

Bài Giáo Lý Nhân Kỷ Niệm 60 Năm Nostra Aetate

Tóm tắt bài giáo lý của Đức Thánh Cha:

Anh chị em thân mến, khi chúng ta cử hành kỷ niệm 60 năm của Nostra Aetate, Tuyên ngôn của Công đồng Vatican II về mối Quan Hệ của Giáo Hội với Các Tôn giáo ngoài Kitô giáo, chúng ta thấy, trong bài đọc Kinh Thánh hôm nay, làm thế nào cuộc gặp gỡ của Đức Giêsu với người phụ nữ Samari đã cho thấy bản chất của cuộc đối thoại liên tôn, tức là sự khám phá đầy khiêm nhường về sự hiện diện của Thiên Chúa. Thật vậy, Nostra Aetate mời gọi chúng ta nhìn mọi tôn giáo như là cuộc truy tìm chân lý và nhìn nhận những người tìm kiếm Thiên Chúa cách chân thành như là những người phản chiếu mầu nhiệm thần thiêng của Người. Bởi vì đức tin Kitô giáo bén rễ trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, vốn khởi đi với dân riêng Người chọn, Giáo Hội có một tình yêu và sự tôn trọng đặc biệt đối với người Do Thái. Đồng thời, thế giới cần nhiều hơn chứng tá của những người nam người nữ thuộc mọi tôn giáo đang sống cùng nhau trong sự hiệp nhất, tình bằng hữu và sự hợp tác. Bằng cách chân thành này, chúng ta có thể làm việc cùng nhau để đạt được hòa bình, công lý và hòa giải vốn rất cần thiết ngày nay. Vì thế, ước gì chúng ta đừng bao giờ đánh mất niềm hy vọng rằng một thế giới mới không còn chia rẽ  là điều có thể.

Dưới đây là bài giáo lý của Đức Thánh Cha, ngày thứ Tư 29/10/2025:

Anh chị em thân mến, những người hành hương trong đức tin và những người đại diện của nhiều truyền thống tôn giáo khác nhau! Chào buổi sáng!

Ở trung tâm của bài suy niệm hôm nay, trong buổi Tiếp Kiến Chung này được dành cho cuộc đối thoại liên tôn, tôi muốn đặt những lời của Chúa Giêsu nói với người phụ nữ Samari: “Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật” (Ga 4,24). Trong Tin Mừng, cuộc gặp gỡ này biểu lộ bản chất của cuộc đối thoại tôn giáo đích thật: một sự trao đổi được hình thành khi con người mở ra cho nhau với sự chân thành, lắng nghe chăm chú và làm phong phú lẫn nhau. Đó là cuộc đối thoại nảy sinh từ cơn khát: cơn khát cõi lòng con người của Thiên Chúa, và sự khát khao Thiên Chúa của con người. Tại giếng Xy-kha, Đức Giêsu đã vượt qua những rào cản văn hóa, giới tính và tôn giáo. Ngài mời gọi người phụ nữ Samari đến một sự hiểu biết mới về việc thờ phượng, vốn không bị giới hạn cho một nơi đặc biệt nào đó – ‘không phải trên núi cũng chẳng phải ở Giêrusalem’ – nhưng được thực hiện trong Thần Khí và sự thật. Khoảnh khắc này nắm bắt được cốt lõi của chính cuộc đối thoại liên tôn: khám phá sự hiện diện của Thiên Chúa vượt quá mọi ranh giới và lời mời gọi cùng nhau kiếm tìm Ngài với lòng tôn kính và khiêm nhường.

Cách đây 60 năm, vào ngày 28 tháng 10 năm 1965, Công đồng Vatican II, với việc Công bố Tuyên ngôn Nostra Aetate, đã mở ra một chân trời mới của đối thoại, tôn trọng và lòng mến khách thiêng liêng. Văn kiện ngời sáng này dạy chúng ta gặp gỡ những người theo các tôn giáo khác không phải như những người ngoài cuộc, nhưng như những người lữ hành cùng nhau trên con đường chân lý; để tôn trọng những khác biệt khẳng định nhân tính chung của chúng ta; và để phân định, trong mọi cuộc tìm kiếm tôn giáo chân thành, một sự phản chiếu về Mầu Nhiệm thần thiêng duy nhất ôm lấy toàn thể công trình tạo dựng.

Cách riêng, không nên quên rằng trọng tâm đầu tiên của Nostra Aetate là hướng đến thế giới người Do Thái, mà Thánh Gioan XXIII dự định tái thiết lập mối quan hệ ban đầu. Vì lần đầu tiên trong lịch sử Giáo Hội, một chuyên luận giáo lý về nguồn gốc Do Thái của Kitô giáo đã được hình thành, sẽ đánh dấu một điểm không thể quay trở lại trên bình diện Kinh Thánh và thần học. Một “mối dây… liên kết thiêng liêng giữa dân của Tân Ước và dòng dõi Abraham. Thật vậy, Giáo Hội Chúa Kitô nhìn nhận rằng, theo mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa, khởi điểm của đức tin và việc tuyển chọn Giáo Hội được tìm thấy nơi các tổ phụ, Môsê và các ngôn sứ” (Nostra Aetate, 4). Bằng cách này, Giáo Hội “vẫn nhớ mình có chung một di sản với người Do Thái, và được thúc đầy bởi đức ái thiêng liêng của Tin Mừng chứ không do động cơ chính trị, nên Giáo Hội đau xót vì lòng hận thù, những bách hại và mọi biểu hiện của chủ nghĩa bài Do Thái vào bất cứ thời điểm nào và do bất cứ ai chống lại người Do Thái” (ibid.).

Kể từ đó, tất cả những vị tiền nhiệm của tôi đã lên án việc bài Do Thái bằng những lời lẽ rõ ràng. Và vì thế, tối cũng xác nhận rằng Giáo Hội không khoan dung cho việc bài Do Thái và những cuộc chiến chống lại nó, trên nền tảng của chính Tin Mừng.

Hôm nay, với lòng biết ơn, chúng ta có thể nhìn vào mọi sự đã đạt được trong cuộc đối thoại Công giáo – Do Thái giáo trong suốt sáu thập kỷ qua. Đây không phải chỉ là nỗ lực của con người, mà còn nhờ vào sự nâng đỡ của Thiên Chúa chúng ta, Đấng mà theo niềm xác tín Kitô giáo, chính là cuộc đối thoại. Chúng ta không thể phủ nhận rằng vẫn còn đó những hiểu lầm, khó khăn và cả những xung đột trong thời kỳ này, nhưng chúng chẳng bao giờ ngăn cản cuộc đối thoại tiếp tục. Thậm chí ngày hôm nay, chúng ta không được để cho những hoàn cảnh chính trị cũng như những bất công của một số người làm chúng ta trệch hướng khỏi tình bằng hữu, nhất là khi chúng ta đã đạt được quá nhiều thành quả cho đến bây giờ.

Tinh thần của Nostra Aetate tiếp tục rọi sáng con đường của Giáo Hội. Giáo Hội nhận ra rằng mọi tôn giáo có thể phản ánh ‘một tia sáng của Chân Lý đang chiếu soi tất cả mọi người’ (NA, 2), và kiếm tìm câu trả lời cho những mầu nhiệm nơi sự hiện hữu của con người, để cuộc đối thoại đừng bao giờ trở nên duy trí óc, nhưng mang tính thiêng liêng sâu sắc. Tuyên Ngôn này mời gọi tất cả những người Công giáo – giám mục, giáo sĩ, những người thánh hiến và giáo dân – dấn thân cách chân thành vào cuộc đối thoại và hợp tác với những người theo các tôn giáo khác, nhận ra và làm tăng tiến tất cả những gì là tốt, chân thật và thánh thiêng trong truyền thống của họ (x. nt.). Ngày nay, trên thực tế, điều này thật sự cần thiết trong mọi thành thị, nơi mà vì sự chuyển động của con người, những khác biệt về văn hóa và tinh thần được kêu gọi gặp gỡ nhau và sống huynh đệ cùng nhau. Nostra Aetate nhắc nhớ chúng ta rằng cuộc đối thoại đích thực bén rễ trong tình yêu, nền tảng duy nhất của hòa bình, công bằng và hòa giải, dẫu cho cuộc đối thoại ấy kiên quyết loại bỏ mọi hình thức phân biệt hoặc bách hại, xác nhận phẩm giá bình đẳng của mọi con người (x. NA, 5).

Vì thế, thưa anh chị em, 60 năm sau Nostra Aetate, chúng ta có thể tự hỏi: chúng ta có thể làm gì cùng nhau? Câu trả lời thật đơn giản: chúng ta có thể hành động cùng nhau. Hơn bao giờ hết, thế giới cần đến sự hiệp nhất, tình bằng hữu và sự cộng tác của chúng ta. Mỗi một tôn giáo có thể góp phần để xoa dịu đau khổ của nhân loại và chăm sóc ngôi nhà chung, Trái Đất hành tinh của chúng ta. Những truyền thống đáng tôn trọng của chúng ta dạy sự thật, lòng trắc ẩn, sự hòa giải, công bằng và bình an. Chúng ta phải xác nhận lại việc phục vụ cho nhân loại, vào mọi thời. Cùng nhau, chúng ta phải cảnh giác đề phòng việc lạm dụng danh của Thiên Chúa, của tôn giáo, và của chính cuộc đối thoại, cũng như chống lại những mối nguy hiểm được đặt ra bởi trào lưu chính thống và chủ nghĩa cực đoan tôn giáo. Chúng ta cũng phải đối mặt với sự phát triển đầy trách nhiệm của trí tuệ nhân tạo bởi vì, nếu được hiểu như là giải pháp thay thế cho con người, nó có thể xâm phạm cách trầm trọng phẩm giá vô hạn của họ và vô hiệu hóa những trách nhiệm cơ bản của họ. Các truyền thống của chúng ta đã góp phần to lớn để nhân tính hóa công nghệ và do đó để gợi lên những nguyên tắc, bảo vệ quyền cơ bản của con người.

Như tất cả chúng ta đều biết, các tôn giáo dạy rằng hòa bình bắt đầu trong cõi lòng con người. Về điều này, tôn giáo có thể đóng một vai trò quan trọng. Chúng ta phải phục hồi niềm hy vọng cho đời sống cá nhân, gia đình, tình xóm giềng, trường học, làng xóm, quốc gia và thế giới của chúng ta. Niềm hy vọng này đặt nền trên niềm xác tín tôn giáo của chúng ta, trên niềm tin rằng một thế giới mới là điều có thể thực hiện được.

Cách đây 60 năm, Nostra Aetate mang lại niềm hy vọng cho thế giới sau Thế Chiến Thứ Hai. Hôm nay, chúng ta được kêu gọi thắp lên lại niềm hy vọng ấy trong thế giới, bị tàn phá bởi chiến tranh và môi trường tự nhiên suy biến. Chúng ta hãy hợp tác, bởi vì nếu chúng ta hiệp nhất, mọi sự đều có thể. Chúng ta hãy bảo đảm rằng không gì có thể chia tách chúng ta. Và trong tinh thần này, tôi muốn bày tỏ một lần nữa lòng biết ơn vì sự hiện diện và tình bằng hữu của quý vị. Chúng ta cũng hãy chuyển tải tinh thần hữu nghị và sự hợp tác cho thế hệ tương lai, bởi vì đó là cột trụ đích thực mà cuộc đối thoại dựa vào.

Và giờ đây, chúng ta hãy dừng lại đôi chút trong cầu nguyện thinh lặng: cầu nguyện có sức biến đổi thái độ, suy nghĩ, lời nói và hành động của chúng ta.

------------------------

Cồ Ngọc Hải dịch

(nguồn: vatican.va)