Logo
Logo

Hội Linh Mục Xuân Bích

Top Banner

Xuan Bich

Vatican II. Phần II. Hiến Chế Lumen Gentium. Bài 1. Mầu Nhiệm Giáo Hội, Bí Tích Của Sự Kết Hiệp Với Thiên Chúa Và Của Sự Hiệp Nhất Toàn Thể Nhân Loại

Tóm tắt bài giáo lý của Đức Thánh Cha:

Hôm nay, chúng ta cùng tìm hiểu Hiến chế Tín lý Lumen Gentium về Giáo hội để khám phá nguồn gốc của Giáo hội. Nói về “mầu nhiệm” của Giáo hội không phải là nói về điều gì đó mơ hồ hay khó hiểu, nhưng là nói về một thực tại trước đây bị che giấu, nay đã được mặc khải. Thực tại này là kế hoạch của Thiên Chúa, dự án của Ngài nhằm hiệp nhất tất cả mọi thụ tạo trong Chúa Kitô. Được lôi cuốn bởi Thánh Giá, như là biểu hiện tối cao của tình yêu Thiên Chúa, nhân loại được Thiên Chúa triệu tập thành cộng đoàn, ekklesia. Thật vậy, khi Thiên Chúa hành động trong lịch sử, Ngài lôi kéo con người vào hoạt động của Ngài. Qua Giáo hội, Thiên Chúa hiệp nhất nhân loại với chính Ngài và quy tụ họ lại với nhau, vì khát vọng hiệp nhất ngự trị trong trái tim con người. Công đồng còn nói với chúng ta rằng Giáo hội, trong Chúa Kitô, như là một bí tích của ơn cứu độ, nghĩa là dấu chỉ và công cụ của sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa và sự hiệp nhất của nhân loại. Qua Giáo hội, Chúa Kitô không ngừng hoạt động trong thế giới để cho mọi người được chia sẻ sự sống vinh hiển của Người, nhờ sự nuôi dưỡng bằng Mình và Máu Người.

Dưới đây là bài giáo lý của Đức Thánh Cha, ngày 18/2/2026 :

Anh chị em thân mến, chào anh chị em, và chào mừng anh chị em đã đến đây!

Công đồng Vatican II, mà chúng ta hiện đang học hỏi các văn kiện của nó trong các bài giáo lý của mình, trước tiên đã tìm cách giải thích nguồn gốc của Giáo hội khi Công đồng muốn mô tả về Giáo hội. Để làm được điều đó, trong Hiến chế Tín lý Lumen Gentium, được phê chuẩn vào ngày 21 tháng 11 năm 1964, Công đồng đã sử dụng thuật ngữ "mầu nhiệm" từ các Thư của thánh Phaolô. Khi chọn từ này, Công đồng không muốn nói rằng Giáo hội là điều gì đó mơ hồ hoặc không thể hiểu được, như thường thấy khi từ "mầu nhiệm" được sử dụng. Trái lại, khi Thánh Phaolô sử dụng từ này, đặc biệt là trong Thư gửi tín hữu Êphêsô, ngài muốn chỉ một thực tại trước đây bị che giấu và nay đã được mặc khải.

Đây là kế hoạch của Thiên Chúa, vốn có một mục đích: hiệp nhất tất cả mọi thụ tạo thông qua hành động hòa giải của Chúa Giêsu Kitô, một hành động được hoàn thành trong cái chết của Người trên thập giá. Điều này được cảm nghiệm trước hết trong cộng đoàn quy tụ để cử hành phụng vụ: ở đó, sự khác biệt được tương đối hóa; điều quan trọng là được ở cùng nhau, bởi vì được lôi cuốn bởi tình yêu của Chúa Kitô, Đấng đã phá bỏ bức tường ngăn cách giữa các cá nhân và các nhóm xã hội (xem Êp 2, 14). Đối với thánh Phaolô, mầu nhiệm là sự biểu hiện của những gì Thiên Chúa đã muốn hoàn thành cho toàn thể nhân loại và đã tỏ mình ra trong những kinh nghiệm địa phương, vốn dần dần mở rộng ra cho đến độ bao gồm tất cả mọi người và thậm chí cả vũ trụ.

Thân phận con người là sự phân mảnh mà con người không thể sửa chữa, ngay cả khi khát vọng hiệp nhất ngự trị trong trái tim họ. Chính trong thân phận này mà hành động của Chúa Giêsu Kitô diễn ra, Đấng, nhờ Chúa Thánh Thần, đã chiến thắng các thế lực chia rẽ và chính Kẻ Chia Rẽ. Việc quy tụ lại để cử hành, sau khi đã tin vào lời rao giảng của Tin Mừng, được sống như một sự lôi cuốn đến từ thập giá của Chúa Kitô, vốn là sự biểu hiện tối cao của tình yêu Thiên Chúa; đó là cảm thấy mình được Thiên Chúa triệu tập lại với nhau: đó là lý do tại sao chúng ta sử dụng thuật ngữ ekklesia, tức là cộng đoàn của những người nhận thấy mình được triệu tập. Do đó, có một sự trùng hợp nào đó giữa mầu nhiệm này và Giáo hội: Giáo hội là mầu nhiệm được có thể nhận thấy.

Tuy nhiên, chính vì được Thiên Chúa thực hiện, nên sự triệu tập này không thể bị giới hạn trong một nhóm người, nhưng được dự định trở thành kinh nghiệm của toàn thể nhân loại. Đó là lý do tại sao Công đồng Vatican II, ở phần đầu của Hiến chế Lumen Gentium, khẳng định như sau: “Giáo hội, trong Chúa Kitô, một cách nào đó là bí tích, nghĩa là dấu hiệu và công cụ của sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất của toàn thể nhân loại” (số 1). Việc sử dụng thuật ngữ “bí tích” và lời giải thích từ đó nhằm chỉ ra rằng Giáo hội, trong lịch sử nhân loại, là sự biểu hiện của những gì Thiên Chúa muốn thực hiện; do đó, khi nhìn vào Giáo hội, chúng ta hiểu được ở một mức độ nào đó kế hoạch của Thiên Chúa, mầu nhiệm: theo nghĩa này, Giáo hội là một dấu chỉ. Hơn nữa, thuật ngữ “công cụ” được thêm vào thuật ngữ “bí tích”, chính là để chỉ ra rằng Giáo hội là một dấu chỉ năng động. Thật vậy, khi Thiên Chúa hành động trong lịch sử, Ngài lôi kéo vào hoạt động của mình những người vốn là đích đến của hành động của Ngài. Chính qua Giáo hội mà Thiên Chúa đạt được mục tiêu kết hợp con người với Ngài và quy tụ họ lại với nhau.

Sự kết hiệp với Thiên Chúa được phản ánh trong sự hiệp nhất giữa các nhân vị. Đây chính là kinh nghiệm về ơn cứu độ. Không phải ngẫu nhiên mà trong Hiến chế Lumen Gentium, tại Chương VII, dành riêng cho bản chất cánh chung của Giáo hội lữ hành, ở số 48, lại sử dụng kiểu mô tả về Giáo hội như một bí tích, với sự làm rõ “của ơn cứu độ”: Công đồng nói, “quả thế, Chúa Kitô, được nâng lên khỏi mặt đất, đã kéo tất cả mọi người đến với Người (xem Ga 12, 32 tiếng Hy Lạp); sống lại từ cõi chết (xem Rm 6, 9), Người đã sai Thánh Thần sự sống của Người xuống trên các Tông đồ và nhờ Chúa Thánh Thần đã thiết lập Thân Thể của Người, tức là Giáo hội, như là bí tích phổ quát của ơn cứu độ; ngự bên hữu Đức Chúa Cha, Người liên tục hoạt động trong thế giới để dẫn dắt mọi người đến với Giáo hội, để kết hợp họ mật thiết hơn với Người qua Giáo hội và để chia sẻ với họ sự sống vinh hiển của Người bằng cách ban cho họ Mình và Máu của Người làm lương thực.”

Bản văn này cho phép hiểu mối quan hệ giữa hành động hiệp nhất của cuộc Vượt Qua của Chúa Giêsu, vốn là một mầu nhiệm về cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh, và căn tính của Giáo hội. Đồng thời, nó giúp chúng ta biết ơn vì được thuộc về Giáo hội, thân thể của Chúa Kitô phục sinh và là dân duy nhất của Thiên Chúa trên cuộc lữ hành xuyên suốt lịch sử, vốn sống như là sự hiện diện có sức thánh hóa giữa một nhân loại vẫn còn chia rẽ, như một dấu chỉ hữu hiệu của sự hiệp nhất và hòa giải giữa các dân tộc.

--------------------------------

Tý Linh chuyển ngữ

(nguồn : vatican.va)